Đồng
bằng sông Cửu Long phấn đấu giữ vững vai trò trung tâm lúa gạo
Phát triển nông nghiệp Đây
là vùng có khí hậu cận xích đạo vùng nên thuận lợi phát triển ngành nông nghiệp
(mưa nhiều, nắng nóng) đặc biệt là phát triển trồng cây ăn trái, trồng lúa nước
và cây lương thực. Mặc dù diện tích canh tác nông nghiệp và thủy sản chưa tới
30% của cả nước nhưng miền Tây đóng góp hơn 50% diện tích lúa, 71% diện tích
nuôi trồng thủy sản, 30% giá trị sản xuất nông nghiệp và 54% sản lượng thủy sản
của cả nước. Do đó, thông tin nông thôn về trồng trọt và chăn nuôi ở vùng này
bao gồm:
Tổng diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, không kể hải đảo, khoảng 3,96 triệu ha, trong đó khoảng 2,60 triệu ha được sử dụng để phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản chiếm 65%. Trong quỹ đất nông nghiệp, đất trồng cây hàng năm chiếm trên 50%, trong đó chủ yếu đất lúa trên 90%. Đất chuyên canh các loại cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày khoảng 150.000 ha, đất cây lâu năm chiếm trên 320.000 ha, khoảng 8,2% diện tích tự nhiên.
Đổi mới cơ
cấu sản xuất nông nghiệp Thứ tư, 18/12/2013, 01:00 (GMT+7)
Mặc
dù đã có những thay đổi lớn về cơ cấu kinh tế, lao động, nhưng đến nay Việt Nam
vẫn còn trên 70% dân số sống ở nông thôn. Kinh nghiệm 25 năm đổi mới cho thấy
nếu được quan tâm, đầu tư đúng mức, nông nghiệp sẽ là động lực nâng caao năng
lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Những thách thức của
thế giới như dân số tăng nhanh, biến đổi khí hậu và biến động giá lương thực…
cũng cho thấy nông nghiệp sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong tương lai.
Đó là nhận định của TS Đặng Kim Sơn (Bộ NN-PTNT). Ông Đặng Kim Sơn cho biết:
Nhiều thách thức mới
Mặc dù đạt được những thành tựu đáng kể và có đóng góp tích
cực cho việc duy trì ổn định kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2010 - 2012,
nhưng tăng trưởng nông nghiệp vẫn chủ yếu dựa vào việc khai thác tài nguyên
thiên nhiên (tăng diện tích đất, thâm dụng nước tưới để tăng vụ…) cùng mức sử
dụng vật tư đầu vào cao nhưng hàm lượng đổi mới công nghệ và thể chế thấp. Chất
lượng tăng trưởng thấp được biểu hiện ở mức tổn thất sau thu hoạch cao, chất
lượng sản phẩm không đồng đều, vệ sinh an toàn thực phẩm không đảm bảo, khả
năng tạo giá trị mới thấp. Vì vậy, sau một thời gian dài khởi sắc, tăng trưởng
nông nghiệp đã bắt đầu chững trong thời gian gần đây, giảm từ 4,5% năm 1995 -
2000 còn 3,8% giai đoạn 2000 - 2005; rồi 3,4% giai đoạn 2006 - 2011 và chỉ còn
2,7% trong năm 2012.

| Tỷ lệ cơ giới hóa khâu thu hoạch ngày càng tăng ở ĐBSCL. Ảnh: Cao
Phong |
Chuyển đổi cơ cấu sản phẩm nông nghiệp diễn ra chậm, chưa
thực sự phản ánh lợi thế so sánh và chưa đáp ứng triển vọng nhu cầu trong tương
lai. Trồng trọt vẫn chiếm trên 50% cơ cấu nội ngành nông nghiệp, trong đó lúa
gạo vẫn chiếm tỷ trọng chính. Tuy chiếm phần lớn diện tích cây trồng hàng năm
nhưng hiệu quả kinh tế của cây lúa đem lại không cao, vì vậy đã xuất hiện tình
trạng nông dân không thiết tha với đất lúa, không thâm canh tăng vụ, nhất là ở
vùng đồng bằng sông Hồng.
Ngành thủy sản và ngành chăn nuôi phát triển nhanh, song
thiếu bền vững. Năng suất vật nuôi còn thấp, giá thành chăn nuôi cao, thức ăn
chăn nuôi phụ thuộc chủ yếu vào nhập khẩu, mô hình chăn nuôi công nghiệp chưa phát
triển, khả năng kiểm soát dịch bệnh còn yếu, kiểm soát thị trường và tổ chức
kinh doanh kém… khiến nhiều hộ nuôi thủy sản ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
“treo” ao, nhiều hộ chăn nuôi bỏ chuồng.
Sản xuất nông nghiệp Việt Nam đang xuất hiện những khó khăn
ngày càng trầm trọng do nhiều thách thức mới xuất hiện. Một số thách thức mà
ngành nông nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt có thể kể đến như: Khả năng tái
sản xuất mở rộng của nông dân giảm sút; rủi ro trong sản xuất nông nghiệp tăng;
ô nhiễm và nguy cơ gây suy thoái môi trường; các nước trong khu vực đầu tư phát
triển nông nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh; suy thoái kinh tế thế giới, nhu
cầu thị trường thế giới sụt giảm đối với một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ
lực của Việt Nam, doanh nghiệp tiếp tục gặp khó khăn…
Ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến
Mặc dù nhu cầu tiêu dùng chung trên thế giới đang chững lại
trong điều kiện khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng về lâu dài, nông sản chất
lượng cao, đảm bảo vệ sinh an toàn luôn có thị trường và giá cả tốt. Trong vài
chục năm tới, thị trường trong nước và xuất khẩu đều có triển vọng tốt cho sản
xuất nông nghiệp. Trong bối cảnh hội nhập ngày càng được đẩy mạnh, một khi sản
xuất nông nghiệp chuyển sang hướng có giá trị gia tăng cao và chất lượng tốt
thì cơ hội để Việt Nam liên kết với các doanh nghiệp và quốc gia khác để mở
rộng thị trường nông sản là rất lớn.
Đến năm 2015, AFTA sẽ phát huy hết tác dụng, hiệp định TPP
đang đàm phán cũng sẽ mở ra những thời cơ mới. Các tiến bộ kỹ thuật được áp
dụng ngày càng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp đem lại năng suất vật nuôi
cây trồng và năng suất lao động ngày càng cao, mở ra khả năng chống chịu thích
nghi tốt với các bất lợi của môi trường... sẽ là những “nguyên liệu” quan trọng
để xây dựng một cơ cấu nông nghiệp hiện đại.
Việc đương đầu với những khó khăn thách thức và khai thác
các thời cơ thuận lợi trên gắn chặt với năng lực đổi mới cơ cấu ngành sản xuất
nông nghiệp của Việt Nam ngay trong năm 2013 và các năm tới. Một mặt là triển
vọng thay đổi tình hình một cách căn bản, chẳng những đối với ngành nông nghiệp
và với cả nền kinh tế nước nhà, mặt khác nguy cơ bất ổn về chính trị - xã hội
và suy thoái môi trường nếu ngành nông nghiệp tiếp tục giảm tăng trưởng.
Bộ NN-PTNT đã chuẩn bị đề án tái cơ cấu ngành, theo tầm nhìn
“tái cơ cấu nền kinh tế” của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI. Bộ NN-PTNT đã
đề xuất các định hướng tái cơ cấu ngành như sau:
Chuyển từ sản xuất các nông sản có giá trị thấp và tiềm năng thị trường hẹp sang các sản phẩm có giá trị cao và tiềm năng thị trường lớn; chuyển từ tập trung đầu tư vào các công đoạn sản xuất sang đầu tư cả cho những khâu tạo giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị sau thu hoạch; chuyển từ chỉ thúc đẩy sản xuất, kích cung sang hỗ trợ cầu; chuyển từ nông nghiệp thâm dụng tài nguyên sang nông nghiệp thâm dụng khoa học công nghệ, huy động tài nguyên con người; chuyển từ nông hộ tiểu nông sang phát triển kinh tế hợp tác, chuyên môn hóa cao, gắn kết cả ngành hàng tại các vùng chuyên canh.
Chuyển từ sản xuất các nông sản có giá trị thấp và tiềm năng thị trường hẹp sang các sản phẩm có giá trị cao và tiềm năng thị trường lớn; chuyển từ tập trung đầu tư vào các công đoạn sản xuất sang đầu tư cả cho những khâu tạo giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị sau thu hoạch; chuyển từ chỉ thúc đẩy sản xuất, kích cung sang hỗ trợ cầu; chuyển từ nông nghiệp thâm dụng tài nguyên sang nông nghiệp thâm dụng khoa học công nghệ, huy động tài nguyên con người; chuyển từ nông hộ tiểu nông sang phát triển kinh tế hợp tác, chuyên môn hóa cao, gắn kết cả ngành hàng tại các vùng chuyên canh.
Mặt khác, nhanh chóng đưa các nguồn tài nguyên đang bị bỏ
phí vào sản xuất nông nghiệp như đất ở các khu dự án công nghiệp thuộc dạng quy
hoạch treo; khôi phục ngay các công trình thủy lợi tại các công trình thủy điện
và khai khoáng không hiệu quả; huy động vật tư tồn kho (xi măng, sắt…) để xây
dựng, phát triển giao thông nông thôn và thủy lợi nhỏ trong chương trình nông
thôn mới…
Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức khoa học công nghệ nông
nghiệp theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm; huy động sự tham gia của tất cả
các thành phần kinh tế vào các hoạt động khoa học công nghệ nông nghiệp; phân
cấp, phân quyền mạnh mẽ hoạt động khuyến nông cho các tổ chức nông dân và doanh
nghiệp, tăng kinh phí đầu tư cho khoa học công nghệ và khuyến nông, đẩy mạnh
triển khai cơ chế đấu thầu các đề tài nghiên cứu.
Đồng
thời, tập trung đầu tư kết hợp cải tiến tổ chức, phát triển toàn diện bộ chuỗi
ngành hàng (từ sản xuất, chế biến đến buôn bán) đối với những ngành có lợi thế
như lúa gạo, cá da trơn ở ĐBSCL, cây công nghiệp ở Tây Nguyên,... tại các vùng
chuyên canh sản xuất hàng hóa phục vụ xuất khẩu trọng điểm (theo mô hình cánh
đồng mẫu lớn, cánh đồng liên kết,…). Ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng, hệ thống
dịch vụ phục vụ sản xuất kinh doanh và hệ thống kho tàng, chế biến, vận chuyển,
tiếp thị… nhằm nâng cao giá trị gia tăng và giảm giá thành nông sản.
Ngoài ra, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm nhằm phát hiện kịp
thời các loại bệnh dịch nguy hiểm, nâng cao năng lực dự báo khí tượng thủy văn
nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu; hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường,
làm cơ sở cho công tác điều hành và dự báo thị trường; tiến hành bảo hiểm sản
xuất nông nghiệp; xử lý dứt điểm, cổ phần hóa và sắp xếp lại các doanh nghiệp
nông lâm nghiệp nhằm cải thiện hiệu quả sử dụng đất bằng cách làm rõ đối tượng
quản lý và sử dụng có hiệu quả cao nhất…
![]() |
Ảnh minh họa
|
Từ năm 2020-2030, phấn đấu ổn định sản lượng mỗi năm 24
triệu tấn.
Để hoàn thành nhiệm vụ trên, từ nay đến 2030, Đồng bằng
sông Cửu Long (ĐBSCL) ổn định diện tích đất lúa hằng năm từ 4,2 -4,3 triệu lượt
ha.
Các cơ quan khoa học và các tỉnh đang phối hợp thực hiện
đề án ứng dụng khoa học, công nghệ lai tạo các giống lúa mới và phục tráng các
giống lúa địa phương thích nghi với biến đổi khí hậu, kháng sâu bệnh, năng suất
cao, phẩm chất gạo tốt.
Trước mắt, ĐBSCL ưu tiên lai tạo các giống lúa thích nghi
với điều kiện bất lợi sinh học (sâu bệnh) và phi sinh học (lũ lụt, hạn, mặn,
phèn, thay đổi khí hậu).
Sau năm 2015, các tỉnh ĐBSCL mở rộng qui trình canh tác
lúa theo vùng sinh thái và qui trình GAP nhằm tạo ra lượng lúa gạo sạch lớn
chiếm từ 40% diện tích đất lúa trở lên; mở rộng công nghệ chế biến lúa gạo
thành các sản phẩm có giá trị cao nhằm giảm phụ thuộc vào xuất khẩu để khi xuất
khẩu gạo không thuận lợi, sản phẩm chính và phụ từ lúa gạo sẽ trở thành nguyên liệu
phục vụ công nghiệp chế biến, sinh hóa, góp phần tạo thêm việc làm cho người
lao động đồng thời tăng giá trị lúa gạo, giúp nông dân tăng thu nhập.
Theo Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long, thành công trong sản xuất lúa của
vùng ĐBSCL là đã đưa sản lượng từ 4,2 triệu tấn (năm 1976) tăng lên 24,5 triệu
tấn (năm 2012), góp phần bảo đảm an ninh lương thực của cả nước đồng thời gia
tăng lượng gạo xuất khẩu.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét